Khái niệm phân biệt cấu tạo móng băng móng cọc móng bè móng đơn

  1. Móng nhà là kết cấu chịu lực của ngôi nhà nằm dưới mặt đất, chịu toàn bộ tải trọng của ngôi nhà và truyền đều xuống móng. Phần móng được chôn dưới đất nên sau khi xây dựng xong nếu phát hiện móng không đủ cường độ và độ ổn định thì việc sửa chữa sẽ rất khó khăn. Vì vậy, khi thiết kế nền móng phải đặc biệt lưu ý.
    Khái niệm-phân biệt-kết cấu-băng-móng-cọc-móng-đế-bè-móng đơn.jpg
    Các bộ phận kết cấu của móng nhà bao gồm: tường móng, gối móng và đệm móng.

    • Móng tường là bộ phận trung gian truyền tải trọng từ tường xuống gối móng, nằm trong đất kết hợp làm bệ đỡ của ngôi nhà nên được làm bằng vật liệu có độ chắc chắn và độ bền cao. Thông thường, chiều rộng của tường móng được làm rộng hơn tường mỗi bên từ 5 – 6cm nhằm mục đích dự phòng sai số cho phép khi khoét móng.
    • Gối móng là bộ phận chịu lực chính của móng.
    • Đệm lót nền có tác dụng làm sạch nền móng và tạo mặt phẳng cho nền móng đảm bảo cho việc thi công móng hay đổ bê tông được dễ dàng. Đệm móng thường làm bằng bê tông gạch vỡ dày 10 – 15cm mác 50. Với đất tốt (như đá ong hoặc đá gan gà), có thể thay lớp đệm đó bằng lớp cát đen san phẳng, hoặc có thể. được loại bỏ hoàn toàn. lớp đệm này nhưng với điều kiện là móng xong phải thi công ngay.

    Khái niệm-phân biệt-kết cấu-móng-băng-móng-cọc-móng-bè-móng-đơn-1.jpg

    Móng băng là gì?

    Móng băng là móng chạy suốt dưới tường chịu lực. Đặc điểm của loại móng này là truyền tải trọng xuống móng tương đối đồng đều.
    Mặt cắt ngang của móng băng thường là hình chữ nhật, hình thang hoặc dạng giật cấp (hình a), các loại móng trên thường dùng cho các công trình nhà ở thấp tầng, chịu tải trọng thấp và khi đất có cường độ cao.
    Nếu công trình thấp tầng chịu tải trọng thấp và đất có cường độ trung bình thì loại móng phổ biến nhất là mặt cắt hình thang và hình dạng giật cấp (Hình b và c).
    Về cấu tạo, loại móng b khó thi công hơn loại c nên thường chỉ gặp khi vật liệu xây móng là bê tông.
    Loại móng băng có cột chôn sâu (hình d) được sử dụng khi lớp đất yếu quá dày và khi nhà cần xây tầng hầm.
    Khái niệm-phân biệt-kết cấu-móng-băng-móng-cọc-móng-bè-móng-đơn-2.jpg

    Trụ móng (móng trụ)

    Nhà có kết cấu khung chịu lực hoặc nhà có cột gạch chịu lực, dưới mỗi cột có một móng độc lập (móng đơn) hay còn gọi là móng cột. Móng cột thường được áp dụng trong các công trình thấp tầng khi tải trọng truyền xuống đất nhỏ, áp lực dưới đế móng nhỏ hơn cường độ của đất. Trong kết cấu tường chịu lực, móng trụ là loại móng có kết cấu dưới dạng trụ đỡ tường hoặc xây tường móng.
    Khái niệm-phân biệt-kết cấu-móng-băng-móng-cọc-móng-bè-móng-đơn-3.jpg
    Sử dụng móng trụ có thể giảm công lao động, giảm công đào và tiết kiệm vật liệu so với sử dụng móng băng. Hình dạng phụ thuộc vào chất liệu và các yếu tố khác để lựa chọn. Có 2 loại chính: móng trụ có đáy vuông & móng trụ có đáy hình chữ nhật.
    Khái niệm-phân biệt-kết cấu-móng-băng-móng-cọc-móng-bè-móng-đơn-4.jpg
    Nếu móng yếu, khi sử dụng móng cột do diện tích móng lớn, làm cho khoảng cách giữa chúng tương đối gần nên có thể liên kết móng cột trở thành móng băng. Điều này làm cho việc xây dựng trở nên đơn giản và cũng có lợi là nền móng được lắng đều.
    Liên kết một chiều thường không thể đảm bảo được độ cứng cho ngôi nhà, vì vậy nên liên kết theo cả hai hướng, ta được móng ô rô hay còn gọi là móng liên hoàn.
    Khái niệm-phân biệt-kết cấu-móng-băng-móng-cọc-móng-bè-móng-đơn-5.jpg

    Móng bè

    Khi tải trọng của tường hoặc cột chịu lực quá lớn, diện tích móng băng hoặc móng cột yêu cầu tối thiểu gần 75% diện tích nhà thì có thể liên kết các móng cột với nhau thành một mảng gọi là móng băng. . cái bè.
    Đối với một số công trình nhiều tầng để hạn chế hiệu quả chấn động tương đối lớn hoặc độ lún không đều, với yêu cầu nền móng có cường độ và độ cứng cao, móng bè có thể có phạm vi ứng dụng rất lớn.
    Móng có thể được thiết kế với dầm sườn (hình b) với các dầm sườn được bố trí ở những khoảng cách nhất định theo cả hai phương hoặc không có dầm sườn (hình a).
    Khái niệm-phân biệt-kết cấu-móng-băng-móng-cọc-móng-bè-móng-đơn-6.jpg

    Móng cọc

    Móng cọc được áp dụng khi nền đất yếu chịu tải trọng lớn của công trình mà việc gia cố, cải tạo nền gặp khó khăn làm tăng giá thành công trình.
    Móng cọc bao gồm cọc và mũ cọc.
    Căn cứ vào đặc tính làm việc của cọc trong đất, móng cọc được chia làm 2 loại: Móng cọc nhồi & móng cọc ma sát.

    • Móng cọc cừ được sử dụng trong trường hợp lớp đất yếu là đất rắn (đá); Đầu cọc dưới cùng được neo chặt vào lớp đất rắn và truyền tải trọng cho nó. Móng cọc không lún (Hình a) hoặc lún không đáng kể.
    • Móng cọc ma sát được sử dụng trong trường hợp lớp đất rắn quá sâu. Cọc ma sát truyền tải trọng công trình lên đất thông qua lực ma sát giữa đất và bề mặt của cọc.

    Khái niệm-phân biệt-kết cấu-móng-băng-móng-cọc-móng-bè-móng-đơn-7.jpg
    Móng cọc trong nhiều trường hợp thường dùng tre gỗ vì dễ chế tạo và thi công. Trong quá trình thi công không để đầu cọc nhô cao hơn mực nước ngầm thấp nhất để tránh cọc bị mục nát.
    Móng cọc bê tông đắt hơn tre, gỗ, dùng để xây dựng chịu tải trọng lớn, độ bền cao (dùng nhiều trong xây dựng công nghiệp). Cọc bê tông không phụ thuộc vào mực nước ngầm nên được sử dụng ở những nơi có mực nước ngầm thay đổi lớn.
    Sử dụng móng cọc cho phép giảm lượng đất đào khoảng 85%, bê tông hóa 35-40%, từ đó giảm được 35% giá thành móng cọc.
    Các loại móng băng, móng cọc, móng bè, móng đơn nêu trên được phân loại dựa trên hình thức của móng. Ngoài ra, dựa vào chất liệu và đặc điểm mà có các loại móng khác nhau.
    Phân loại đinh theo chất liệu
    Bao gồm móng gạch, móng bê tông đá, móng bê tông (nặng hay nhẹ), móng thép, móng bê tông cốt thép, v.v.
    Đá móng thường được sử dụng ở những khu vực sản xuất nhiều đá. Những khu vực ít đá nếu dùng đá hộc thì tốn nhiều nhân công, chi phí vận chuyển nên không kinh tế. Nếu dùng đinh thép sẽ rất tốn kém và dễ bị xói mòn nên ít được sử dụng.
    Phân loại móng theo đặc điểm
    Theo đặc điểm, móng tay được chia làm 2 loại: móng cứng và móng mềm.
    Tùy theo đinh cứng hay mềm mà gối đinh chủ yếu được thiết kế để chịu nén hoặc uốn. Góc kéo dài của gối đinh gọi là góc cứng. Là góc tạo bởi đường nghiêng kéo dài gối móng với đường nằm ngang.

    • Với móng cứng, gối móng thường làm bằng bê tông, gạch, đá… cường độ chịu nén lớn nhưng khả năng chịu uốn kém.
    • Với nền móng mềm, độ bền nén và độ bền uốn tốt, thường gối móng được làm bằng bê tông cốt thép.

Xem thêm  Tổ hợp nhà khung thép tiền chế cho đại gia đình ở Thái Lan

Cao Đẳng Xây Dựng Số 2 đã cập nhật cho bạn thông tin về “Khái niệm phân biệt cấu tạo móng băng móng cọc móng bè móng đơn❤️️”. Hy vọng qua bài viết “Khái niệm phân biệt cấu tạo móng băng móng cọc móng bè móng đơn” sẽ giúp các bạn đọc có thêm nhiều thông tin về “Khái niệm phân biệt cấu tạo móng băng móng cọc móng bè móng đơn [ ❤️️❤️️ ]”.

Khái niệm phân biệt cấu tạo móng băng móng cọc móng bè móng đơn” được đăng bởi vào ngày 2022-07-02 13:39:48. Cảm ơn bạn đã đọc bài tại Cdxd2.edu.vn

Rate this post
Back to top button